Để hiển thị được flash hãy cài flash player tại đây

 

Đưa nước hợp vệ sinh về khu vực trường học, cơ sở y tế

(29/12/2009)

Năm 2009 được coi là năm bản lề để hoàn thành những mục tiêu của Chương trình Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS&VSMTNT) giai đoạn 2006-2010. Mặc dù gặp những khó khăn nhưng với những nỗ lực của các bộ, ngành và địa phương nên việc đưa nước sạch và xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cho những vùng nông thôn đã đạt kết quả tốt. Năm 2009 đã có thêm hơn hai triệu người dân tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh, trong đó khoảng 40% được dùng nguồn nước đạt tiêu chuẩn do Bộ Y tế quy định.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đào Xuân Học cho biết, năm 2009 đã có 75% số trường học, 77% số trạm xá, 67% trụ sở UBND xã và 45% số chợ ở khu vực nông thôn đã có công trình cấp nước và nhà tiêu theo thiết kế hợp vệ sinh. Nếu như trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia NS&VSMTNT giai đoạn 1 (2001-2005), hầu hết các địa phương chưa chú trọng và đầu tư cân đối giữa hai mảng cung cấp nước sạch và công trình vệ sinh, thì bước sang giai đoạn 2 của chương trình (2006-2010), khoảng cách này đã được thu hẹp. Nổi bật nhất trong lĩnh vực vệ sinh môi trường nông thôn là khâu tuyên truyền nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi vệ sinh cá nhân và công cộng trên khắp các miền quê khu vực từ đồng bằng đến miền núi, đặc biệt là hai vùng nông nghiệp trọng điểm của đất nước: vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Việc tuyên truyền tạo nhận thức giữ gìn môi trường sống không chỉ tập trung tại các làng nghề truyền thống, mà còn lan toả tới nhiều làng quê thuần nông, từng bước tạo dựng ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường đến từng người dân góp phần xây dựng nông thôn xanh, sạch đẹp. Các địa phương đã được cân đối nguồn kinh phí đầu tư, hỗ trợ để đẩy mạnh các hoạt động vệ sinh môi trường, đồng thời phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai tốt nguồn vốn vay lãi xuất ưu đãi của Chính phủ để xây dựng các công trình nước sạch và vệ sinh, trong đó trên 50% là các nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình. Đây là những tín hiệu đột phá trong công tác vệ sinh môi trường khu vực nông thôn trong Chương trình.

Tuy nhiên, việc triển khai đưa nước hợp vệ sinh đến với những người dân vùng nông thôn, nhất là địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay vẫn đang gặp khó khăn. Chánh văn phòng thường trực Chương trình MTQG nước sạch và VSMTNT Lê Thiếu Sơn cho rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn mặc dù đã hình thành ở một số địa phương nhưng chậm phát triển do chưa có chỉ đạo quyết liệt, sự vào cuộc thực sự của các cấp các ngành, các đoàn thể, của mọi thành phần kinh tế và sự gia tham gia của người dân. Năng lực chuyên môn, lực lượng cán bộ bố trí cho việc thực hiện chương trình cũng như sự phối hợp giữa các ngành ở nhiều tỉnh còn hạn chế và chưa thực sự hiệu quả. Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến mục tiêu về vệ sinh môi trường, cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trường học, trạm y tế, chợ, trụ sở UBND xã...Kinh phí đầu tư cho Chương trình, bao gồm ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, viện trợ quốc tế đã được tăng lên hàng năm nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu; trong khi đó người dân nông thôn còn nghèo nên đóng góp rất hạn chế, tự mình bỏ kinh phí xây dựng công trình cho gia đình mình chưa được nhiều. Bên cạnh đó, trong những năm qua khí hậu biến đổi rất cực đoan, thiên tai, bão lũ, hạn hán xảy ra thường xuyên với mức độ khốc liệt hơn trên nhiều vùng trong cả nước phá huỷ nhiều công trình cấp nước và vệ sinh.

Phấn đấu trong năm 2010, việc cung cấp nước sạch sẽ giúp 83% dân số khu vực nông thôn được tiếp cận, sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, tăng thêm 5% số hộ có nhà tiêu, đưa tỷ lệ 64% số hộ sinh sống ở khu vực nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh. Chương trình cũng đặt ra mục tiêu 80% trường học, 82% số trạm xá, 77% trụ sở UBND xã, 53% số chợ khu vực nông thôn có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh. Để đạt các mục tiêu này, các địa phương cần ưu tiên triển khai xây dựng các công trình tại các khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, những khu vực thường xuyên bị hạn hán, lũ lụt thiên tai…Khi phân bổ kinh phí, cần chú trọng tới các vùng có tỷ lệ nghèo cao, nơi mà mật độ bao phủ việc cấp nước và vệ sinh còn thấp,  nhiều khó khăn hơn so với các vùng khác; tiếp tục tăng kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hộ gia đình. Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển, cần ưu tiên bố trí các công trình hoàn thành, chuyển tiếp, nâng cấp mở rộng và công trình trọng điểm. Bên cạnh đó, các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện cần bố trí không hạn chế kinh phí để hoàn thành mục tiêu cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh cho trường mẫu giáo, trung học cơ sở, các trạm y tế, công trình công cộng…Ông Lê Thiếu Sơn cho rằng ngoài việc tăng cường công tác chỉ đạo ở các cấp thì cần vận động các hội, đoàn thể ở địa phương cùng tham gia thực hiện chương trình; triển khai thực hiện tốt công tác xã hội hoá trong lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, huy động các nguồn lực trong xã hội và tạo điều kiện hỗ trợ cho nhân dân thực hiện. Chú trọng phát triển các hoạt động về vệ sinh cả về công tác chỉ đạo cũng như ưu tiên phân bổ nguồn vốn một cách phù hợp; tăng cường công tác quản lý, khai thác các công trình cấp nước sau đầu tư; đẩy mạnh công tác kiểm tra chất lượng công trình và kiểm soát chất lượng nước; đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường công cộng; đặc biệt chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách xã hội, đẩy mạnh việc xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường từ nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ, đồng thời lồng ghép tốt với các nguồn vốn đầu tư khác.

Bài Bảo Hân. Ảnh Đông Huyền

 

[Trở về]

Các tin khác

Tin mới nhất

Phụ nữ Hải Dương tích cực tham gia công tác truyền thông nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

(31/08/2010)

Nước thải sinh hoạt: Hiểm họa môi trường hàng đầu VN

(27/08/2010)

An Giang: Cập nhật Bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2010

(24/08/2010)

Cần khắc phục khó khăn, cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn ở Ninh Bình

(24/08/2010)

Nước sạch nâng cao chất lượng cuộc sống vùng cao

(23/08/2010)

Nước sạch về trường

(20/08/2010)

Vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường

(19/08/2010)

Nước sạch - niềm vui của nông dân vùng cao

(19/08/2010)

Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi

(18/08/2010)

Nước sạch ở Vĩnh Châu - đôi điều ghi nhận!

(18/08/2010)

TRUNG TÂM QUỐC GIA NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
73 Nguyên Hồng, Đống Đa, Hà Nội
Tel: 04.38355964 Fax: 04.37760439
Email: cerwass@fpt.vn

cong ty du lich Vietnam visa for Us Vietnam visa in San Francisco visa for vietnam cong ty dich vu seo cho thue may chu, hosting, host Angkor cambodia travel to laos Halong cruise pizza,học làm bánh, Nguyên liệu làm bánh , khuôn bánh pizza,học làm bánh, Nguyên liệu làm bánh , khuôn bánh travel to cambodia halong bay Phần mềm quản lý nhâ sự