Hơn 5 năm trước, nước sạch với đồng bào Tày ở vùng miền núi Dương Phong (huyện Bạch Thông) là một “niềm ao ước lớn”. Nay, ước mơ đó đã trở thành sự thật…
Nước sạch về tận nhà
Xã Dương Phong trước đây quanh năm thiếu nước. Mùa mưa thì lũ ở các suối nhỏ lên nhanh, thường gây sạt lở, lũ quét nhưng mùa khô thì dòng suối lớn Khuổi Dân lại cạn trơ sỏi đá. Nhiều gia đình phải đào giếng sâu đến…16m nhưng vẫn không có nước hoặc có thì cũng không đủ dùng. Nhiều hộ phải ra suối để lấy nước sinh hoạt nhưng do nguồn nước ở xa nên người tắm giặt ở trên, người lấy nước ăn ở dưới nên vệ sinh không được đảm bảo.
Thôn Bản Mèn có gần 90% là người dân tộc Tày. Năm 2003, thôn được Trung tâm NS&VSMT tỉnh đầu tư 333 triệu đồng xây dựng công trình cung cấp nước sạch cho 63 hộ. Đến năm 2004, công trình hoàn thành và đi vào sử dụng, nước sạch đã tự chảy về tận các hộ gia đình. Công trình do nhà nước đầu tư 100% vốn, người dân chỉ bỏ công đi đào đường ống, ngoài ra không phải đóng thêm bất kỳ một khoản kinh phí nào. Từ khi có công trình nước sạch, phụ nữ trong bản không còn phải vất vả leo núi cõng từng gùi.
Công trình nước sạch ở Bản Mèn có một tổ quản lý duy tu và bảo dưỡng gồm 2 người. Hàng tháng mỗi hộ dân góp 5.000 đồng để trả lương cho tổ quản lý và có kinh phí mua vật tư sửa chữa duy tu các hư hỏng của đường ống, cũng như việc thau rửa bể, thay cát sỏi…”Hai anh em tôi thay nhau đi kiểm tra hệ thống đường ống theo định kỳ để phát hiện những hư hỏng, kịp thời sửa chữa. Nhưng quan trọng nhất là nhờ ý thức bảo vệ của người dân, nên đến nay công trình nước sạch vẫn hoạt động tốt”- anh Trần Văn Hải – thành viên tổ quản lý cho biết.
Chia sẻ nước ngọt
Theo nhiều người già ở Bản Mèn, những bể chứa nước sạch giờ là… “đặc sản” ở nơi đây. Ông Ma Văn Thới – Phó Chủ tịch UBND xã dẫn chúng tôi đi thăm công trình nước sạch ở Bản Mèn, giới thiệu về niềm tự hào của người dân Dương Phong: Bể hứng nước được xây dựng như một cái phễu để hứng nước sạch từ đầu nguồn suối Khuổi Dân (theo tiếng địa phương nghĩa là khe nước tự chảy). Ông cho biết: “Khoảng cách từ bể chứa đến bể hứng là gần 3km. sở dĩ bể hứng xây cách xa bể chứa là để đảm bảo lấy được nguồn nước sạch, không có phân trâu, bò hay người tắm giặt ở phần trên”.
Nguồn nước được dẫn về bể chứa lớn có dung tích 8m3 qua hệ thống đường ống, được lọc qua hệ thống cát sỏi. Sau đó, nước chảy tới các bể nhỏ nằm rải rác trong thôn, bản. Các hộ dân lắp ống dẫn nước từ các bể nhỏ này để đưa nước về nhà. Trung bình cứ 4-5 hộ lấy nước từ một bể nhỏ. Xung quanh các bể chứa nước được xây nền xi măng sạch sẽ. Ngoài ra, còn có một số điểm lấy nước tập trung để những hộ chưa có điều kiện lắp ống dẫn nước về tận nhà cũng có nước sạch để dùng. Theo bật mí của Phó Chủ tịch Thới, từ ngày bà con có nước sạch, các bệnh về mắt, đường ruột, phụ khoa… giảm đáng kể.
Chị Tho Thị Thoan (bản Mèn) phấn khởi: “Bây giờ nước chảy về tận nhà, không còn phải lo đi cõng nước cách nhà 2 cây số như trước nữa…”. Không chỉ có 63 họ dân của bản Mèn mà còn có gần 30 hộ của bản Pé được hưởng lợi từ công trình này. Anh Nông Văn Xiên (bản Pé) cho biết: “Bản mình chưa có công trình nước sạch nên vợ chồng mình phải đi lấy nước rất xa. Thương vợ mình làm đơn xin dùng chung nguồn nước của bản Mèn, bây giờ thì sướng rồi!”.
>> Theo qui hoạch của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2006-2010, phấn đấu 100% thị xã, thị trấn của tỉnh đều có nước sạch cung cấp cho dân cư với tiêu chuẩn 100-120 lít/ngày đêm/ người.
NGUYỄN HỮU
Báo Nông thôn NN 29/6/2010